ACID FOLIC LÀ KỲ DIỆU CHO BỆNH TIM MẠCH

Vai trò của acid folic trong cơ thể

Người tổng hợp: Tiến sỹ, bác sỹ Nguyễn Duy Nhất.

1. Lịch sử acid folic hay folate (Vitamin B9)

Axit folic được đặt tên vào năm 1941 khi phân lập từ rau bina, được chứng minh là một yếu tố tăng trưởng cho vi khuẩn Streptococcus lactis R (S. faecalis)  bởi Mitchell et al (1941). Có rất nhiều tên gọi tên khác đã được đưa ra như axit pteroylglutamic, folate, vitamin B9. Các hợp chất sau đó đã được tổng hợp ở dạng tinh khiết vào năm 1943 bởi Bob Stokstad (Công ty Cyanid Mỹ), và bởi Angier et al (1945). Acid folic tổng hợp có khác folate tự nhiên trong ba khía cạnh : (1) dư lượng glutamate bổ sung (‘polyglutamates’), (2) giảm tới DI- hoặc tetra-hydroforms, và (3) đơn vị cacbon đơn bổ sung. Axit folic (axit pteroylglutamic) bây giờ được sử dụng để biểu thị các hợp chất hóa học bị oxy hóa hoàn toàn, không có mặt trong các thực phẩm tự nhiên. Thuật ngữ “folate” được sử dụng để biểu thị nhóm lớn  các hợp chất tổng hợp có tính hoạt động tương tự vitamin, bao gồm folate tự nhiên và axit folic.

Hình 1.2: Công thức cấu tạo của acid folic

2. Vai trò ca acid folic đi vi cơ th

Acid folic là một trong 8 vitamin nhóm B. Acid folic là cơ sở chính của nhiều coenzym. Trong nhiều phản ứng tổng hợp, những coenzym này tham dự vào quá trình trưởng thành và phân chia tế bào. Nó có vai trò quan trọng ở nhiều mức khác nhau. Tất cả các vitamin B giúp cơ thể  biến đổi thức ăn (carbohydrate) trong nhiên liệu (glucose) để tạo thành năng lượng. Những vitamin B là phức hợp giúp cơ thể sử dụng chất béo và protein. Phức hợp các vitamin cần thiết cho sức khỏe như da, tóc, mắt và gan. Chúng còn giúp hoàn chỉnh chức năng hệ thần kinh, đặc biệt là phát triển ống thần kinh trong giai đoạn phát triển bào thai. Thiếu folate có thể gây ra thiếu máu hồng cầu khổng lồ, suy tim sung huyết, giảm sắc tố, bạc tóc sớm, vô sinh, loạn sản cổ tử cung, tử cung dị sản, bệnh thần kinh, rối loạn tâm thần, rối loạn chức năng nhận thức và sa sút trí tuệ.

2.1. Vai trò trong hệ thần kinh và tâm thần:

Theo Gospe (1995), khi thiếu acid folic dẫn tới hành vi bất thường ở chuột đã được ghi nhận. Các nghiên cứu khác đã tìm thấy mối liên quan giữa thiếu hụt folate và các bệnh tâm thần bao gồm cả tâm thần phân liệt và rối loạn tâm thần (Reynolds 1976; Ortega 1996). Theo Bottiglieri và CS (1994), cho thấy một tỷ lệ cao hơn các rối loạn tâm thần ở bệnh nhân cao tuổi bị thiếu hụt folate. Nghiên cứu tiềm năng về tiêu thụ acid folic tại Hoa Kỳ (Corrada 2005) và nồng độ acid folic trong máu ở Italy (Ravaglia 2005) đã đưa ra bằng chứng của lượng acid folic thấp là một YTNC của sa sút trí tuệ. Acid folic chống giảm trí nhớ (Alzheimer): nhiều nghiên cứu khuyến cáo để giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer ở những người có tuổi nên sử dụng khoảng 0,4mg acid folic/ngày. Giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh ở thai nhi. Acid folic làm tăng thính lực, kết quả của chương trình bổ sung acid folic vào bột mì của Mỹ và Hà Lan cho thấy ở hai quốc gia này, tỉ lệ người suy giảm thính lực do tuổi tác ít hơn hẳn so với các quốc gia khác. Vitamin B và acid folic giúp chống lại chứng đau nửa đầu, bổ sung vitamin B và acid folic là cách giúp người bệnh chống lại các triệu chứng suy yếu do mắc phải chứng đau nửa đầu (migraine).

Acid folic đóng vai trò cốt yếu trong phát triển chức năng não và đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển cảm xúc và tâm thần. Bởi vì acid folic tham gia vào quá trình tổng hợp nhiều chất dẫn truyền thần kinh như dopamin, adrenalin, noradrenalin. Người lớn tuổi với tình trạng acid folic thấp có nhiều khả năng bị tâm thần, tự kỉ hay chán nản (Ebly 1998). Trong các nghiên cứu quan sát, mức độ acid folic thấp trong huyết thanh có liên quan với bệnh Alzheimer và với tất cả các loại bệnh mất trí nhớ (Meindok 1970; Sneath 1973; Renvall 1989; Clarke 1998; Ebly 1998). Nó đã được lưu ý rằng mức độ acid folic trong huyết thanh thấp có liên quan với teo vỏ não (Snowdon 2000). Điểm số tâm thần tối thiểu (MMSE) ở những người có nồng độ acid folic huyết thanh cao, cao hơn đáng kể so với những người có nồng độ thấp hơn (Ortega 1996). Có mối tương quan giữa nồng thấp acid folic và chức năng nhận thức cụ thể như hồi tưởng và nhận định (Hassing 1999; Wahlin 1996). Mức folate hồng cầu và folate dịch não tủy thấp hơn ở những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer (Abalan 1996). Mất ngủ, mệt mỏi và hay quên sau khi một chế độ ăn uống thiếu folate bốn tháng đã được báo cáo bởi Herbet năm 1961. Những người già có nồng độ thấp của folate nguy cơ gấp hai lần phát triển bệnh Alzheimer hơn những người có mức bình thường (Wang 2001). Trong một nghiên cứu lâm sàng mở, bệnh nhân bị thiếu hụt acid folic và mất trí nhớ phục hồi hoàn toàn sau khi uống 50 mg axit folic mỗi ngày trong 21 ngày (Brocker 1986).

2.2. Vai trò trong chức năng tạo máu:

Aicd folic rất cần thiết cho sự tạo thành tế bào hồng cầu. Tạo ra những tế bào máu, thiếu acid folic dẫn đến thiếu máu hồng cầu to. Thiếu acid folic trong khẩu phần ăn của người mẹ mang thai sẽ ảnh hưởng quá trình tạo máu và phát triển thai nhi, gây ra những nguy cơ cho trẻ sơ sinh như thiếu cân, khiếm khuyết ống thần kinh (nứt ống thần kinh, thiếu một phần não, hở cột sống)….

2.3. Vai trò trong chống ung thư:

Tổng hợp acid nucleic (ADN, ARN) tạo nên gen. Trong methyl hóa acid nucleotide, điều này dường như quan trọng trong ngăn ngừa ung thư. Acid folic giảm nguy cơ ung thư kết tràng. Nghiên cứu của Đại học Harvard (Mỹ) cho thấy acid folic có khả năng giảm bớt ung thư kết tràng. Folat có thể ngăn ngừa ung thư, mức hấp thu folat càng cao thì nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng càng thấp. Thiếu folat có thể gây ung thư vú hoặc ung thư ruột.

3. Vai trò của acid folic trong xơ vữa động mạch và đột quỵ não

3.1. Giảm acid folic làm tăng homocystein máu

Trong chu trình tái methyl-hoá, homocystein máu kết hợp với nhóm methyl (từ N5-methyl-tetrahydrofolat) để tạo thành methionin, phản ứng này do enzym methionin synthase xúc tác. Vitamin B12 là một coenzym quan trọng của enzym methionin synthase, acid folic có vai trò tạo thành tetrahydrofolat, còn enzym methionin synthase và N5, N10-Methylen Tetrahydro Folat Reductase (MTHFR) là chất xúc tác của chu trình tái methyl-hoá. Có 5 nhóm nguyên nhân làm tăng homocystein máu bao gồm, trong đó thiếu vitamin nhóm B có vai trò quan trọng nhất. Theo Selhub, hai phần ba các trường hợp tăng nồng độ homocystein máu có liên quan đến tình trạng thiếu ít nhất một trong các vitamin này. Việc bổ sung acid folic, vitamin B12 và vitamin B6 có thể đưa homocystein máu về mức bình thường.

Tổng mức homocystein huyết thanh khác nhau giữa các nhóm dân cư. Theo Stehouwer (1998), nồng độ homocystein trong máu ở người Hà Lan cao hơn phổ biến so với ở Hoa Kỳ, có lẽ vì sử dụng lớn hơn của việc bổ sung axit folic, bồi bổ thực phẩm tại Mỹ. Chính phủ Mỹ đã quy định tất cả bột bổ sung axit folic ở mức 140 mcg mỗi 100 g để giảm tỷ lệ mắc các dị tật bẩm sinh ống thần kinh. Tăng cường vi chất bắt buộc như vậy vẫn chưa được áp dụng ở châu Âu, mặc dù một số nhà sản xuất đang bổ sung axit folic để ngũ cốc ăn sáng và có thể đưa nó vào chất béo phết. Bồi bổ sữa với axit folic đã được chứng minh là đủ để phòng ngừa thiếu folate ở người lớn tuổi (Keane 1998). Tỷ lệ folate thấp (22,0%) và nồng độ homocystein cao (18,7%) ở Mỹ đã giảm khi tiến hành chương trình tăng cường vi chất xuống tương ứng 1,7% và 9,8% sau đó.

Meng Lee và CS (2010), tiến hành nghiên cứu phân tích gộp về hiệu quả giảm homocystein của acid folic để dự phòng đột quỵ não. Tổng số có 13 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, bao gồm 39 005 người được sử dụng liệu pháp acid folic để giảm homocystein máu. Kết quả phân tích cho thấy, việc bổ sung acid folic mang lại lợi ích vừa phải trong dự phòng đột quỵ não nguyên phát, đặc biệt acid folic phối hợp với vitamin nhóm B ở nam giới .

3.2. Acid folic là tác nhân chống oxy hóa và bảo vệ hệ tim mạch

Các tác dụng có lợi của acid folic về chức năng nội mô mạch máu được quy vào việc giảm nồng độ Hcy huyết tương. Sự giải thích này trong những nghiên cứu gần đây đã ủng hộ rộng rãi. Rõ ràng là axit folic liều cao sẽ cải thiện chức năng nội mô, nghĩa là sự giảm Hcy máu sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ tim mạch. Tuy nhiên, các nghiên cứu can thiệp lâm sàng gần đây đã chỉ ra rằng, Hcy huyết tương giảm dường như không phải là cơ chế chính của những tác động có lợi trên chức năng nội mô. Bổ sung liều thấp axit folic có thể làm giảm Hcy máu, nhưng không làm giảm các nguy cơ tim mạch. Tuy nhiên với axit folic liều cao có thể cải thiện chức năng nội mô trước khi có sự thay đổi bất kỳ nào nồng độ Hcy huyết tương. Như vậy, acid folic ngoài ảnh hưởng trên hệ tim mạch thông qua việc làm giảm nồng độ Hcy máu, nó còn có ảnh hưởng trực tiếp ở nồng độ cao đó là hoạt động của chất chống oxy hóa.

Theo nghiên cứu của Bashir Mahmoud và cộng sự (2009) nghiên cứu về hoạt động chống oxy hóa của acid folic trên chuột. Đánh giá tác dụng bảo vệ sinh bệnh học bệnh tim mạch, bệnh về máu, các bệnh thần kinh và ung thư gắn với các hoạt động chống oxy hóa của acid folic. Hoạt động chống oxy hóa thực sự của acid folic phụ thuộc vào sự tiêu thụ và giảm các dạng chất gây oxy hóa. Nghiên cứu cho thấy càng bổ sung nhiều axit folic thì các hoạt động chống oxy hóa của nó trở nên cao hơn. Tác dụng chống oxy hóa tạo hiệu ứng phòng chống sự chết theo chương trình (apoptosis) của các tế bào nội mô. Hơn nữa, acid folic ngăn ngừa mất collagen và giảm quá trình thoái hóa tế bào mast; tăng tỷ lệ GSH / GSSG và giảm nitrat hóa protein. Ngoài ra, ở những bệnh nhân rối loạn lipid máu với cơn đau thắt ngực ổn định, việc bổ sung acid folic (10 mg / ngày) trong ba tháng giúp cải thiện rối loạn chức năng nội mô và giảm độ dày lớp áo giữa của tế bào nội mạc.

6

Sơ đồ : Ảnh hưởng của acid folic lên chức năng nội mạc mạch máu.

Nguồn*: Stuart J. Moat và CS (2004).

(Trong điều kiện sinh lý, tetrahydrobiopterin (BH4) liên kết với endothelial nitric oxide (NO) synthase (eNOS), dẫn đến việc sản xuất NO và L-citrulline từ l-arginine và O2. Sau đó, NO khuếch tán từ tế bào nội mô vào tế bào cơ trơn kích hoạt cGMP, dẫn đến giãn mạch máu. Yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng cholesterol máu, hút thuốc lá và tăng Hcy ​​máu gây hậu quả làm giảm NO sinh khả dụng. Giảm NO này có thể xảy ra như là kết quả của nồng độ BH4 dưới mức tối ưu, do quá trình oxy hóa của chất chuyển hóa BH4 dihydrobiopterin hoạt động của nó (BH2), dẫn đến việc “tách cặp” của eNOS. eNOS ở trạng thái “không ghép cặp” của nó sản sinh ra gốc superoxid (O2) và cuối cùng dẫn đến rối loạn chức năng nội mô. Axit folic hoặc các dẫn xuất của nó đảo ngược rối loạn chức năng nội mô thông qua một số cơ chế, giả định:

1) Giảm homocystein, vì folate tham gia cấu tạo 5MeTHF để chuyển hóa  Hcy thành methionine;

2) Tác dụng chống oxy hóa trực tiếp, vì 5MeTHF có thể thu dọn gốc O2

3) Ổn định cấu trúc hóa học hoặc tái sinh BH4, vì folate có thể ổn định cấu trúc hóa học BH4 hoặc bằng cách tác động vào các reductase enzyme dihydropteridine (DHPR) này xúc tác sự tái sinh BH4 từ BH2;

4) Tác động trực tiếp vào eNOS, vì folate có thể tăng cường sự gắn kết của BH4; ngoài ra, folate chứa một pterin cấu trúc vòng tương tự như BH4, do đó có thể liên kết trực tiếp vào các hoạt động của eNOS và bắt chước các định hướng của BH4).

Assanelli và cộng sự (2004) nghiên cứu việc bổ sung acid folic và vitamin E ảnh hưởng lên homocystein máu, chức năng nội mạc và khả năng chống oxy hóa trong nhồi máu cơ tim của người trẻ. Một thử nghiệm ngẫu nhiên đã được thực hiện ở 30 bệnh nhân trẻ với nhồi máu cơ tim cấp tính gần đây (AMI) và nồng độ homocystein ​​trong huyết tương cao. Can thiệp bao gồm liều cao folate, hoặc một mình (nhóm A) hoặc kết hợp với Vitamin E (nhóm B), trong ba tháng. Các kết quả đánh giá chính là chức năng nội mô, khả năng chống oxy hóa trong huyết thanh và nồng độ homocystein máu. Bổ sung axit folic làm giảm nồng độ homocystein ​​trong huyết tương ở cả hai nhóm bằng 41% so với giá trị ban đầu, mối liên quan có ý nghĩa thống kê với P <0,001. Cải thiện đáng kể chức năng nội mô [từ 0,322 (0,03) đến 0,450 (0,02) mm trong nhóm A và từ 0,338 (0,03) đến 0,584 (0,04) mm trong nhóm B]. Tuy nhiên, không có sự khác biệt trong việc cải thiện chức năng nội mô giữa axit folic và axit folic cộng với nhóm Vitamin E. Khả năng chống oxy hóa huyết thanh đáng kể (P < 0,001) tăng lên ở cả hai nhóm. Kết luận, tác dụng có lợi của axit folic vào cơ trơn mạch máu xuất hiện độc lập bởi hoạt động chống oxy hóa, nhưng dường như được gắn liền với giảm homocystein máu; những tác động của Vitamin E còn chưa rõ ràng.

Title LM và CS (2000), nghiên cứu ảnh hưởng của acid folic và các vitamin chống oxy hóa trên rối loạn chức năng nội mạc của bệnh nhân bệnh động mạch vành. So với giả dược, acid folic đã làm tăng đơn độc folate huyết tương bằng 475% (p <0.001), giảm Hcy ​​huyết tương khoảng 11% (p = 0,23) và cải thiện đáng kể độ dãn nở gián tiếp của dòng chảy (FMD) từ 3,2 +/- 3,6% lên 5,2 +/- 3,9% (p = 0,04). Những cải thiện trong FMD tương quan với giảm homocystein ​​(r = 0,5, p = 0,01). Axit folic kết hợp chất chống oxy hóa làm tăng folate huyết tương bằng 438% (p <0.001), giảm Hcy ​​huyết tương bằng 9% (p = 0,56) và không cải thiện đáng kể FMD từ 2,6 +/- 2,4% đến 4,0 +/- 3,7% (p = 0,45) , so với giả dược. Kết quả nghiên cứu cho thấy bổ sung axit folic cải thiện đáng kể rối loạn chức năng nội mô ở bệnh nhân xơ vữa động mạch vành. Các thử nghiệm lâm sàng tiếp tục được yêu cầu để xác định xem việc bổ sung axit folic có thể làm giảm biến cố tim mạch .

3.4. Dược động học của acid folic trong cơ thể

Acid folic được hấp thu ở hỗng tràng trên ở dạng mono glutamate và chuyển đổi sang methylene tetrahydro folate (MTHFR) trong huyết thanh. Cơ chế chính của sự hấp thụ folate qua ruột non là khuếch tán thụ động (Rosenberg 1985), nhưng hấp thu bị ảnh hưởng bởi sự biến đổi gen trong enzyme MTHFR reductase. Một kiểu gen được xác định là 677 C -> T đột biến. Những người có 677 TT (thymine / thymine) genotype hấp thụ folate ít hiệu quả hơn so với những người có CT (cytosine / thymine) hoặc CC (cytosine / cytosine) biến thể. Các đột biến C677T được kết hợp với hoạt động giảm MTHFR, plasma thấp và nồng độ folate trong tế bào hồng cầu và mức độ homocystein ​​huyết tương cao. Nó xảy ra trên dân số chung ở các bà mẹ có con bị gai đôi cột sống (Whitehead 1995). Hai phần ba folate trong huyết tương là tự do và một phần ba không liên kết đặc hiệu với albumin và các protein khác. Nồng độ Folate trong dịch não tủy (CSF) gấp ba lần trong huyết thanh (Botez 1979), và nồng độ suy giảm theo tuổi (Bottiglieri 2000).

Acid folic và acid folinic là các hợp chất nhân tạo có thể thay thế cho các folate tự nhiên. Axit folic dung nạp tốt và tác dụng phụ rất hiếm và ít gặp các phản ứng quá mẫn (Smith 2002). Axit folinic thì ổn định hơn axit folic và có một nửa thời gian tồn tại trong cơ thể. Axit folinic cũng di chuyển qua hàng rào máu não và được đào thải chậm hơn so với axit folic, nó ít được chuyển hóa trong não và nhanh chóng được đào thải khỏi hệ thống thần kinh trung ương. Smith năm 2008 đã công bố một đánh giá quan trọng về chủ đề này.

Mức độ acid folic thấp có thể là kết quả của chế độ ăn uống không đầy đủ, giảm bớt sự hấp thu qua đường tiêu hóa hoặc sử dụng tăng lên. Thiếu folat là phổ biến ở các nước kinh tế kém phát triển (Cooper 1986), như một hệ quả của suy dinh dưỡng, nghèo đói, chế độ ăn dân tộc, cách chế biến và bệnh mãn tính. Ở các nước phát triển hơn, thiếu chế độ ăn uống kết hợp với chứng nghiện rượu là nguyên nhân phổ biến nhất, nhưng chế độ ăn giảm béo cũng ảnh hưởng. Một số loại thuốc tương tác với sự trao đổi chất folate và có thể gây ra thiếu hụt; ví dụ bao gồm các thuốc chống co giật (như Dilantin, phenytoin và primidone), metformin (được sử dụng để kiểm soát đường huyết ở bệnh tiểu đường type 2), sulfasalazine (được sử dụng để kiểm soát tình trạng viêm liên quan đến bệnh Crohn và viêm loét đại tràng), triamteren (thuốc lợi tiểu) , methotrexate (sử dụng cho các bệnh ung thư và các bệnh khác như viêm khớp dạng thấp), pyrimethamine, trimethoprim và barbiturate (được sử dụng như thuốc giảm đau).

Trong thực phẩm có nguồn gốc động vật và thực vật, acid folic bị phá hủy nhanh bởi ôxy hóa và nhiệt. Vi khuẩn đường ruột tạo nguồn gốc cung cấp phụ thêm nhưng rất ít. Nguồn gốc tốt nhất là gan, trứng, nấm. Thiếu acid folic sẽ đi kèm với thiếu vitamin C hoặc sắt, kẽm. Khi đó giảm tính sinh học có sẵn của acid folic. Đặc biệt bệnh bò điên khiến cho người sử dụng gan bò cẩn thận, cũng ảnh hưởng đến acid folic. Nguồn cung cấp tự nhiên của acid folic: Nấm, cà rốt, khoai tây, sữa mẹ, sữa bò tươi, sữa bột, mầm lúa mì, đậu haricot, nấm men. Nguồn gốc động vật như thịt bò, lợn, gà, gan (bò, lợn) và trứng.

Nồng độ bình thường ở huyết tương: 5,3 – 14,4 ng/ml.

Lượng acid folic được khuyên cung cấp:

Trẻ còn bú : 50μg/ngày;                    Trẻ từ 1-3 tuổi: 100 μg/ngày;

Trẻ từ 4-12 tuổi: 200 μg/ngày; Thanh niên 13 – 19 tuổi:300 μg/ngày;

Người trưởng thành: 300 μg/ngày; Phụ nữ có thai hay cho con bú   : 500 μg/ngày .

Homo BQ và acid Folic

Tăng huyết áp, đột quỵ não

Tóm lại: Acid folic là một vitamin nhóm B quan trọng đối với cơ thể, với nhiều chức năng kinh điển trên hệ tạo máu, tham gia cấu tạo nhân tế bào, hoàn thiện hệ thần kinh và phát triển hệ tâm thần. Ngoài ra, trong những năm gần đây người ta đặc biệt lưu ý đến ảnh hưởng trên hệ tim mạch. Thiếu acid folic có tác hại kép đó là làm tăng homocystein máu, đồng thời giảm các chất chống oxy hóa. Vì vậy làm tăng quá trình hình thành và phát triển XVĐM, nên làm tăng nguy cơ bị đột quỵ não.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Abularrage CJ, Sidawy AN, White PW, et al. (2007 ), “Effect of folic Acid and vitamins B6 and B12 on microcirculatory vasoreactivity in patients with hyperhomocysteinemia.“, Vasc Endovascular Surg, 41(4), p.: 339-345.
  2. Assanelli D, Bonanome A, Pezzini A, et al. (2004), “Folic acid and vitamin E supplementation effects on homocysteinemia, endothelial function and plasma antioxidant capacity in young myocardial-infarction patients“, Pharmacol Res.2004 Jan, 49(1), p.: 79-84.
  3. Bashir Mahmoud Rezk Atteia, Abd El-Aziz Atteia El-Kak, Pamela A. Lucchesi, et al. (2009), “Antioxidant activity of folic acid: From mechanism of action to clinical application. “, The FASEB Journal. April 2009, 23(Meeting Abstract Supplement), p.: 103-107.
  4. Chen chungming, Colin F. Mills, C Gopalan, et al. (2002), “Human Vitamin and Mineral Requirements”, in Report of a joint FAO/WHO expert consultation: Chapter 5. Vitamin B12, Bangkok, Thailand, p.: 65-72.
  5. Chen chungming, Colin F. Mills, Rowett, et al. (2002), “Human Vitamin and Mineral Requirements: Chapter 4. Folate and folic acid”, in Report of a joint FAO/WHO expert consultation Bangkok, Thailand, Bangkok, Thailand, p.: 53-63.
  6. Chen KJ, Pan WH, Yang FL, et al. (2005), “Association of B vitamins status and homocysteine levels in elderly Taiwanese.“, Asia Pac J Clin Nutr. 2005;14(3):250-5, 14(3), p.: 250-255.
  7. He K, Mercheant A, and Rimm EB (2004), “Folate, vitamin B6, and vitamin B12 intakes in relation to risk of stroke among men“, Stroke.2004 Jan, 35(1), p.: 169-174.
  8. Henry OR, Benghuzzi H, Taylor HA Jr, et al. (2012), “Suppression of Homocysteine Levels by Vitamin B12 and Folates: Age and Gender Dependency in the Jackson Heart Study“, Am J Med Sci, 2012 Aug(344(2)), p.: 110-115.
  9. Hoffbrand AV and Weir DG (2001), “The history of folic acid“, Br J Haematol, 2001 Jun;113(3), p.: 579-589.
  10. Hoseinali Qeilichnia Omrani, Ehsan Esmaili Shandiz, Mojdeh Qabai, et al. (2011), “Hyperhomocysteinemia, Folate and B12 Vitamin in Iranian Patients with Acute Ischemic Stroke. “, ARYA Atheroscler. , 2011 Fall;( 7(3):), p.: 97-101.
  11. Hossein Fakhrzadeh, Sara Ghotbi, Rasoul Pourebrahim, et al. (2006), “Total plasma homocysteine, folate, and vitamin B12 status in healthy Iranian adults: the Tehran homocysteinesurvey (2003-2004)/a cross-sectional population based study. “, BMC Public Health 2006, 6(29).
  12. Hiroyasu Iso, Moriyama Y, Sato S, et al. (2004), “Serum total homocysteine concentrations and risk of stroke and its subtyes in Japanese. “, Circulation 2004 Jun 24, 109(22), p.: 2766-2772.
  13. Itzhak Kronzon and Paul A. Tunick (2006), “Aortic Atherosclerotic Disease and Stroke“, Circulation, 114, p.: 63-75.
  14. J. Thambyrajah and J. N. Townend (2000), “Review Article: Homocysteine and atherothrombosis – mechanisms for injury J. Thambyrajah and J. N. Townend. “, European Heart Journal.2000, 21, p.: 967-974.
  15. Bo Jiang, Yumei Chen, Guoen Yao, et al. (2014), “Effects of differences in serum total homocysteine, folate, and vitamin B12 on cognitive impairment in stroke patients“, BMC Neurol. 2014 Nov, 30(14), p.: 217-219.
  16. Lee M, Hong KS, Chang SC, et al. (2010), “Efficacy of homocysteine-lowering therapy with folic Acid in stroke prevention: a meta-analysis. “, Stroke. 2010 Jun 41(6), p.: 1205-1212.
  17. Lim HS and Heo YR (2002), “Plasma total homocysteine, folate, and vitamin B12 status in Korean adults“, J Nutri Sci Vitaminol (Tokyo).2002 Aug, 48(4), p.: 290-297.
  18. Michael S. Goligorsky (2005), “Endothelial cell dysfunction: can’t live with it, how to live without it.“, American Journal of Physiology – Renal Physiology.2005 May 288(5), p.: 871-880.
  19. Reem Malouf and John Grimley Evans (2008), “Folic acid with or without vitamin B12 for the prevention and treatment of healthy elderly and demented people“, Cochrane Database Syst Rev. 2008 Oct, 8(4 ), p.: CD004514. .
  20. Renzhe Cui, Hiroyasu Iso, Chigusa Date, et al. (2010), “Dietary Folate and Vitamin B6 and B12 Intake in Relation to Mortality From Cardiovascular Diseases. Japan Collaborative Cohort Study“, Stroke.2010, 41, p.: 1285-1289.
  21. Robert S Rosenson, David S Kang, Mason W Freeman, et al. Overview of homocysteine. http://www.uptodate.com/ contents/ 2015 This topic last updated: Jul 23, 2015. [cited Sep 2015.
  22. Selhub J, Jacques PF, Bostom AG, et al. (2000), “Relationship between plasma homocysteine and vitamin status in the Framingham study population. Impact of folic acid fortification.“, Public Health Rev.2000, 28(1-4), p.: 117-145.
  23. Stanger O, Fowler B, Piertzik K, et al. (2009), “Homocysteine, folate and vitamin B12 in neuropsychiatric diseases: review and treatment recommendations“, Expert Rev Neurother, 9(9), p.: 1393-1412.
  24. Stuart J. Moat, Sagar N. Doshi, Derek Lang, et al. (2004), “Treatment of coronarry heart disease with folic acid: is there a future? “, American Journal of Physiology – Heart and Circulatory Physiology Published 1 July 2004, 287(1), p.: 1-7.
  25. Susanna C.Larsson, Satu Männistö, Mikko J. Virtaren, et al. (2007), “Folate, Vitamim B6, Vitamin B12, and Methionine Intakes and Risk of Stroke Subtypes in Smokers. “, Am J Epidemiol. 2008 Apr 15, 167(8), p.: 954-961.
  26. Title LM, Cummings PM, Giddens K, et al. (2000), “Effect of folic acid and antioxidant vitamins on endothelial dysfuntion in patients with coronary artery disease.“, J Am Coll Cardiol.2000 Sep, 36(3), p.: 758-765.
  27. Van Guelpen B, Hultdin J, Johansson I, et al. (2005), “Folate, vitamin B12, and risk of ischemic and hemorrhagic stroke: a prospective, nested case-referent study of plasma concentrations and dietary intake“, Stroke.2005 Jul, 36(7), p.: 1426-1431.
  28. Virtanen JK, Voutilainen S, Happonen P, et al. (2005), “Serum homocysteine, folate and risk of stroke: Kuopio Ischaemic Heart Disease Risk Factor (KIHD) Study“, Eur J Cardiovasc Prev Rehabil. 2005 Aug, 12(4), p.: 369–375.
  29. Wayne H. Giles, Steven J. Kittner, Robert F. Anda, et al. (1995), “Serum Folate and Risk for Ischemic Stroke. First National Health and Nutrition Examination Survey Epidemiologic Follow-up Study“, Stroke. 1995 Jul, 26(7), p.: 1166-1170.
  30. Weikert C, Dierkes J, Hoffmann K, et al. (2007), “B vitamin plasma levels and the risk of ischemic stroke and transient ischemic attack in a German cohort. “, Stroke.2007 Nov, 38(11), p.: 2912-2918.
  31. Weiss N, Keller C, Hoffmann U, et al. (2002), “Endothelial dysfunction and atherothrombosis in mild hyperhomocysteinemia, Vasc Med.2002 Aug, 7(3), p.: 227-239.
  32. Weng LC, Yeh WT, Bai CH, et al. (2008), “Is ischemic stroke risk related to folate status or other nutrients correlated with folate intake?“, Stroke. 2008 Dec, 39(12), p.: 3152-3158
  33. Xin Yi, Yanli Zhou, Dingsheng Jiang, et al. (2014), “Efficacy of folic acid supplementation on endothelial function and plasma homocysteine concentration in coronary artery disease: A meta-analysis of randomized controlled trials“, Exp Ther Med, 2014 May; 7(5), p.: 1100-1110.
  34. Yang LK, Wong KC, Wu MY, et al. (2007), “Correlations between folate, B12, homocysteine levels, and radiological markers of neuropathology in elderly post-stroke patients. “, J Am Coll Nutr.2007 Jun, 26(3), p.: 272-278.
Chia sẻ bài viết

BÀI VIẾT LIÊN QUAN
.
.
.
.