Dự phòng biến cố tim mạch do xơ vữa động mạch
Dự phòng tiên phát biến cố tim mạch do xơ vữa: Cập nhật các khuyến cáo hiện hành – P1
- Theo Timmachhoc.vn Thứ hai, 28 Tháng 4 năm 2014
BS. Nguyễn Thanh Hiền
BS. Thượng Thanh Phương
BS. Trần Dũ Đại
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tim mạch do xơ vữa (BTMXV) là bệnh khá thường gặp trong thực hành lâm sàng. Việt Nam hiện chưa có số liệu thống kê cụ thể trên cả nước, nhưng tại Mỹ hiện có 16.8 triệu người (nam 8.7 triệu, nữ 8.1 triệu) được chẩn đoán bệnh mạch vành-BMV, nếu tính cả những BN không triệu chứng thì con số này chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều.
Dự tính trong tương lai, gánh nặng do bệnh lý này sẽ càng lớn khi mà tuổi thọ con người càng tăng, bệnh ngày càng trẻ hóa đồng thời kết hợp với những tiến bộ của y học trong những năm gần đây đã cứu sống nhiều trường hợp bị biến cố tim mạch do xơ vữa (BCTMXV) làm cho số lượng bệnh nhân BTMXV ngày càng cao. Đó là về độ lớn, còn về độ nghiêm trọng của BTMXV thì sao? Chúng ta cùng xem lại lời cảnh báo trên website từ năm 2009 của tổ chức y tế thế giới-WHO: “BMV là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới, nó tiếp tục gia tăng và thật sự sẽ trở thành đại dịch không giới hạn”. Và đột quỵ là 1 nguyên nhân quan trọng tiếp theo góp thêm vào cho tử suất và tàn phế của BTMXV. Theo thống kê 2005, tử vong do BMV tại Mỹ chiếm 35.3% trên tổng tử vong chung và làm tiêu tốn khoảng 133 tỷ USD hàng năm. Theo dự báo của AHA con số này sẽ tăng lên đến cả nghìn tỷ USD hàng năm vào thời điểm 2030[8]. Mặc dù tử vong chuẩn hóa theo tuổi do BTMXV đã giảm tại Mỹ và Châu Âu trong những năm gần đây nhưng nó vẫn tiếp tục gia tăng tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, có lẽ do sự chuyển dịch của nền kinh tế xã hội.Và chúng ta, những người có liên quan trực tiếp, cần hành động gì trước vấn đề sức khỏe quan trọng này?“Phòng bệnh hơn chữa bệnh”đó là khởi điểm mang lại hiệu quả nhất trong nhiều chiến lược hành động nhằm giải quyết vấn đề trên.
Và mới đây, vào cuối năm 2013, trường môn tim mạch Mỹ/hội tim mạch Mỹ (ACC/AHA) phối hợp cùng viện tim phổi máu quốc gia Mỹ (NHLBI) đã đăng tải 5 khuyến cáo dựa trên bằng chứng vềđánh giá nguy cơ tim mạch, thay đổi lối sống, điều trị cholesterol máu, quá cân-béo phì và xử trí THA ở người trưởng thành với nhiều thay đổi trong cách tiếp cận và điều trị so với các khuyến cáo trước đây. Xuất phát từ những lý do trên,bài viết này xin được tổng quan các y văn hiện có nhằm tập trung trả lời 4vấn đề chính:
1. Dự phòng tiên phát biến cố tim mạch do xơ vữa là gì?
2. Cơ sở lý luận và bằng chứng của chiến lược dự phòng tiên phát như thế nào?
3. Các khuyến cáo hiện hành nói gì về dự phòng tiên phát?
4. Dự phòng tiên phát cụ thể ra sao?
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Dự phòng tiên phát biến cốtim mạch do xơ vữa (BCTMXV) là gì?
Chúng ta xem lại câu hỏi đơn giản này để biết chiến lượcđề cập ở đây có cùng ý nghĩa như dự phòng tiên phát các bệnh lý khác trong y học không, từ đó sẽ giúp định rõ đối tượng cũng như đích đến của can thiệp này?Như vây để trả lời câu hỏi trên, chúng ta cần làm rõ các thành tố của nó: dự phòng tiên phát là gì? BCTMXV bao gồm những gì?Dự phòng tiên phát BCTMXV ta cần xác định ở đây là gì?
Trước tiên chúng ta cùng nhìn lại tiến trình xơ vữa động mạch (XVĐM)đã được Braunwald và các cộng sự đề nghị trong sách giáo khoa (textbook) về tim mạch để thấy rõ sự tiếp diễn liên tục của BTMXV[10].Khởi điểm từ các YTNC với sự tương tác giữa các yếu tố thúc đẩy và các yếu tố về hành viđể hình thành nên các bất thường về chuyển hóa rồi bệnh diễn tiến qua giai đoạn thầm lặng không triệu chứng, chỉ phát hiện qua các dấu ấn cận lâm sàng (bệnh không triệu chứng hay bệnh dưới lâm sàng) sau đó là giai đoạn biểu hiện bệnh lý lâm sàng rõ với các biến chứng của XVĐM như NMCT, đột quỵ…. Và chiến lượcdự phòng tiên phát chúng ta đề cập ở đâyđang ở đâutrên tiến trình xơ vữa này?.
Hình 1: Tiến triển của xơ vữa động mạch[10]
Dự phòng tiên phát được định nghĩa là các biện pháp nhằm trì hoãn hoặc ngăn ngừa khởi phát bệnh (có thể có triệu chứng hay không) trên những người chưa có bệnh, trong khi đó dự phòng thứ phát chính là phát hiện bệnh sớm và can thiệp để ngăn ngừa tiến triển của bệnh. Như vậy chiến lược dự phòng tiên phát và thứ phát khác nhau ở 2 điểm: đối tượng tác động (chưa có bệnh hay đã có bệnh) và đích đến (dự phòng tiên phát: ngăn ngừa bệnh; dự phòng thứ phát: ngăn ngừa tiến triển-biến chứng của bệnh). Theo sơ đồ trên (hình 1) và đúng theo tiến trình sinh lý bệnh, dự phòng tiên phát chính là can thiệp các YTNC trên những người chưa có BTMXV và dự phòng thứ phátđượcáp dụng trên những người đã có BTMXV nhằm ngăn ngừa tiến triển-biến chứng của bệnh hay chính là những biến cố (VD: nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tử vong). Và rõ ràng giảm biến cố tim mạch (events)đạt được trong cộng đồng là thành quả của cả 2 chiến lược dự phòng tiên phát và thứ phát chứ không chỉ riêng cho dự phòng tiên phát (Hình 2)[12]
Hình 2: Vị trí của 2 chiến lược dự phòng tiên phát và thứ phát trên tiến trình XVĐM[12]
Vì 2 chiến lược dự phòng tiên phát và thứ phát có cách tiếp cận và xử trí khác nhau nên rất quan trọng cần phải định rõ ranh giới giữa 2 chiến lược này.Ranh giới để phân biệt đó là “bệnh”.BTMXV có thể có triệu chứng và không có triệu chứng. Như thế nếu 1 người chưa biết có BTMXV hiện tại có triệu chứng gợi ý BTMXV thì chúng ta thực hiện các biện pháp để chẩn đoán rồi sau đó đặt BN vào 1 trong 2 chiến lược dự phòng tiên phát hoặc thứ phát để xử trí. Nếu 1 người không có triệu chứng mà chỉ có nhiều YTNC tim mạch (có thể có BTMXV mà chưa được khảo sát hết để có bằng chứng chăng?), rất khó để chúng ta chọn lựa sẽ hành động theo chiến lược nào?
Xuất phát từ lợi ích thực tế đã được chứng minh trong các thử nghiệm lâm sàng (TNLS) statin, aspirin trong dự phòng thứ phát, ACC/AHA 2013 đã định nghĩa rõ ranh giới cho 2 chiến lược này là “BTMXV lâm sàng” (clinical ASCVD)và nó chính là tiêu chuẩn nhận vào trong các TNLS này bao gồm: NMCT hoặc tiền sử NMCT, đau thắt ngực ổn định và không ổn định, tái thông mạch vành hoặc mạch khác, đột quỵ, cơn thoáng thiếu máu não hoặc bệnh mạch máu ngoại biên do xơ vữa[16]. Và không có những tiêu chuẩn này cũng chính là đặc điểm của các đối tượng trong đoàn hệ gộp được ACC/AHA 2013 đưa vào trong xây dựng mô hình tiên đoán biến cố BTMXV tiên lượng 10 năm và lâu dài của mình. Như vậy theo ACC/AHA 2013[8]:
Dự phòng tiên phátlà chiến lược áp dụng trên các đối tượng chưa có dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng của BTMXV (BTMXV lâm sàng).
Biến cốtim mạch do xơ vữa (BCTMXV):có thể xảy ra ở nhiều mạch máu trong cơ thể nhưng thường gặp nhất ở 2 giường mạch chính: mạch vành (bệnh mạch vành-BMV), mạch não (đột quỵ).Các BCTMXVđược chọn lọclàm tiêu chí đánh giá trong các thang điểm đánh giá nguy cơ có khác nhau,bao gồm: BMV toàn bộ (Total CHD), BMV toàn bộ bao gồm tái thông (Total CHD including revascularization), BMV cứng (Hard CHD), BCTMXV cứng (Hard ASCVD), BCTMXV cứng bao gồm suy tim (Hard ASCVD including cardiac failure) (Bảng 1)
Bảng 1: Phân loại những biến cố tim mạch do xơ vữa từ các bảng điểm nguy cơ[8]
| Những biến cố tim mạch do xơ vữa (BCTMXV) | ||||||||
| BCTMXV cứng bao gồm suy tim | ||||||||
| BCTMXV cứng | ||||||||
| BMV cứng | ||||||||
| BMV toàn bộ | ||||||||
| BMV toàn bộ bao gồm tái thông | ||||||||
| Tái thông MV | ĐTN ổn định | ĐTN không ổn định | Nhồi máu cơ tim | Tử vong BMV | Đột quỵ | Đột quỵ tử vong | Suy tim | Cơn thoáng TM não |
Dự phòng tiên phát biến cố tim mạch do xơ vữa(BCTMXV) theo khuyến cáo ACC/AHA 2013là chiến lược áp dụng trên các đối tượng chưa bị BTMXV lâm sàng (theo định nghĩa trên) nhằm tập trung ngăn ngừa BCTMXV cứng đầu tiênbao gồm tử vong do BMV hoặc NMCT không tử vong hoặc đột quỵ tử vong và không tử vong (chứ không đơn thuần chỉ làbiến cố BMVcứng hoặc chỉ là tử vong như các khuyến cáo trước đây) vì đó là những biến cố được quan tâm hơn hết ở cả hai phíabệnh nhân và thầy thuốc.
2. Cơ sở lý luận và bằng chứng của chiến lược dự phòng tiên phát như thế nào?
Hình 3: Cơ chế khởi động XVĐM và tác động của các can thiệp trong dự phòng [3]
Xơ vữa ĐM là 1 tiến trình liên tục kéo dài hàng chục năm từ các YTNC tim mạch, hình thành vệt mỡ rồi mảng xơ vữa để cuối cùng bị nứt vỡ thành lập huyết khối trong lòng mạch và tạo nêncác biến cố mạch máu trên lâm sàng. Hầu như ai trong chúng ta cũng biết dự phòng là từ các YTNC nhưng cơ chế bên dưới khởi động cho toàn bộ tiến trình này là gì?Hiểu rõ điều này sẽgiúp chúng tacó được cơ sở lý luận và chiến lược thích hợp trong dự phòng.Hình 3 cho thấy chính sự sản xuất ra LDL-C oxit hóa, các chất stress oxi hóa, nicotine và phản ứng viêm, bắt nguồn từ các YTNC như THA, ĐTĐ, hút thuốc, tăng cholesterol…sẽ gây tổn thương nội mạc, kích thích đáp ứng viêm và miễn dịch trong cơ thể, làm tăng các hóa chất trung gian, cytokine và các phân tử kết dính. Bạch cầu đa nhân trung tính sẽ di chuyển và gắn kết vào các tế bào nội mạc bị tổn thương cùng với các phân tử kết dính tế bào mạch máu (Vascular cell adhesion molecule-VCAM) thúc đẩy sự kết dính các BC đơn nhân, thâm nhập vào mạch máu, chuyển dạng thành các đại thực bào hoạt hóa và thực bào nhiều LDL oxit hóa hơn trở thành tế bào bọt. Các đại thực bào hoạt hóa này còn tổng hợp angiotensin II (A-II), càng thúc đẩy các chất stress oxit hóa và kích thích hình thành thêm các VCAM. Ngoài ra, A-II còn thúc đẩy tăng trưởng tế bào cơ trơn mạch máu, là một phần thiết yếu của tiến trình XVĐM. Xuất phát từ cơ chế trên, về mặt suy luận chiến lược dự phòng tiên phát sẽ có 2 đích nhắm là cải thiện YTNC và chức năng nội mạc, trong đó cơ chế RL chức năng nội mạc trong XVĐM có vai trò nổi trội của phản ứng viêm (vai trò của statin?) và A-II (vai trò của ức chế men chuyển, ức chế thụ thể angiotensin?). Mặt khác nứt vỡ mảng xơ vữa và thành lập huyết khối gây tắc nghẽn lòng động mạch đã là biến chứng của tiến trình XVĐM hay thuộc sinh bệnh của các biến cố cấp về mạch máu. Như vậy dự phòng để hạn chếsự kiện làm nứt vỡ mảng xơ vữakhông có vai trò bảo vệ của aspirin (ức chế kết tập tiểu cầu). Nó chỉ có vai trò ngăn ngừa hay hạn chế khởi điểm cho quá trình hình thành huyết khối trên những người thật sự có nhiều khả năng bị nứt vỡ mảng xơ vữa (những người thuộc nhóm nguy cơ cao cho BCTMXV đầu tiên hay những người đã từng bị BCTMXV).
Như vậytừ sinh bệnh trên, để dự phòng tiên phát chúng ta cần tìm hiểu và làm rõ các vấn đề của thực tế sau:
1. YTNC của BTMXVlà gì? Mỗi YTNC đã ảnh hưởng như thế nào trên BCTMXV?Việc điều chỉnh nó sẽ mang lại lợi ích gì?
2. Khi bệnh nhân có nhiều YTNC, chúng ta chỉ cần điều chỉnh riêng lẻ từng YTNC thay đổi được là đủ hay phải hành động gì khác hơn?
3. Các dấu ấn nguy cơ mới có giúp ích gì trong tiên đoán biến cốtim mạch?
4. Vai trò của các can thiệp bằng thuốc tác động trên sinh bệnh (statin, ức chế A-II và aspirin) như thế nào trong chiến lược dự phòng tiên phát?
5. Khi nào tầm soát BMV?
1.Các YTNC của BTMXV là gì?Mỗi YTNC đã ảnh hưởng như thế nào trên BCTMXV? Việc điều chỉnh nó sẽ mang lại lợi ích gì?
Nghiên cứu Framingham đã xác định nhiều YTNC trong đó hút thuốc lá, THA và cholesterol cao chính là những yếu tố nguy cơ chính cho BCTMXV.Báo cáo cập nhật ATP III năm 2004 đã phân loại các YTNC thành: YTNC có thể thay đổi được, YTNC không thay đổi được và YTNC mới phát hiện (bảng2 )
Bảng 2: Phân loại YTNC[18]
| Phân loại | Các YTNC |
| YTNC không thay đổi được | Tuổi, giới, tiền sử gia đình, di truyền |
| YTNC có thể thay đổi được | Hút thuốc, chế độ ăn, rượu, vận động thể lực, RLLP, THA, béo phì, ĐTĐ, hội chứng chuyển hóa |
| YTNC mới phát hiện | CRP, fibrinogen, điểm vôi hóa mạch vành, homocystein, lipoprotein (a), LDL nhỏ đậm đặc |
Trong thực hành lâm sàng, chúng ta cần phân biệt thêm 2 thuật ngữ là yếu tốtiên đoán nguy cơ (risk predictors)và yếu tốlàm giảm nguy cơ (risk reducer).Trong đó yếu tố tiên đoánnguy cơ (có thể bao gồm YTNC thay đổi được) là những biến số dùng để tiên đoán trong cácmô hình nguy cơ tim mạch toàn bộ chứ không hẳnnó là những yếu tố khởi điểm cho tiến trình xơ vữa. Và nó có thể là những chỉ điểm cho BTMXV dưới lâm sàng,đã là hậu quả của tiến trình xơ vữa (VD: điểm vôi hóa MV, bề dày lớp nội trung mạc mạch cảnh, ABI) và chúng ta không thể can thiệp trực tiếp vào chính các yếu tố này nhằm thay đổi nguy cơ tim mạch toàn bộ trong dự phòng tiên phát. Còn các yếu tố làm giảm nguy cơ là đích nhắm cho các chiến lược can thiệp trong dự phòng (hình 4)
Hình 4: Phân biệt yếu tố tiên đoán nguy cơ và yếu tố làm giảm nguy cơ[10]
Gần đây hơn, nghiên cứu INTERHEART đã chỉ ra 9 YTNC tim mạch chính chịu trách nhiệm của 90% những trường hợp bị NMCT đầu tiên trong quần thể (nguy cơ quy trách trong quần thể), và ảnh hưởng riêng lẻ của từng YTNC trên kết cục lâm sàng này (Bảng 3 ).
Bảng 3: Tác động của các YTNC trên BCTMXV[15]
| Yếu tố nguy cơ | OR(99%CI) được hiệu chỉnh bằng phân tích đa biến | Nguy cơ quy trách trong quần thể được hiệu chỉnh bằng phân tích đa biến |
| ApoB/ApoAI | 3.25 (2.82-3.76) | 49% |
| Đang hút thuốc lá | 2.87 (2.58-3.19) | 36% |
| ĐTĐ | 2.37 (2.07-2.71) | 9.9% |
| THA | 1.91 (1.74-2.10) | 18% |
| Béo bụng | 1.62 (1.45-1.80) | 20% |
| Căng thẳng thần kinh hoặc trầm cảm | 2.67 (2.21-3.22) | 33% |
| Ăn rau và trái cây mỗi ngày | 0.70 (0.62-0.79) | 14% |
| Tập luyện | 0.86 (0.76-0.97) | 12% |
| Uống rượu | 0.91 (0.82-1.02) | 7% |
| Kết hợp | 129 | 90% |
Lợi ích của giảm những YTNC chính như hút thuốc lá, THA và tăng cholesterol đã làm giảm hơn 50% tử vong do BMV. Cai thuốc lá làm giảm 60% nguy cơ BMV trong vòng 3 năm với khoảng ½ lợi ích này đạt được trong vòng 3-6 tháng đầu sau ngưng thuốc lá. Giảm mỗi 10 mmHg huyết áp sẽ làm giảm tử vong tim mạch 20-40% và giảm mỗi 1 mmol/l LDL-C sẽ làm giảm 21% biến cố tim mạch.
2.Khi bệnh nhân có nhiều YTNC, chúng ta chỉ cần điều chỉnh riêng lẻ từng YTNC thay đổi được là đủ hay phải hành động gì khác hơn?
Như chúng ta đã biết, trên tiến trình chuỗi bệnh lý tim mạch có nhiều YTNC cùng tương tác, bệnh nhân đến với thầy thuốc có thể mang nhiều YTNC và trong đó có cả YTNC không thay đổi được.Nguy cơ tim mạch trong tương lai không thể bằng tổng mức độ nguy hại từ các YTNC cùng hiện diện. Thực vậy, trên 95% nguy cơ BTMXV là do 4 YTNC chính có thể thay đổi được (thuốc lá, RLLP, THA, ĐTĐ), mặc dù mỗi YTNC đơn thuần làm tăng hơn 2 lần BCTMXV nhưng khi hiện diện cả 4 YTNC này, BCTMXV sẽ tăng 40 lần. Và trong tác động nhằm giảm nguy cơ nếu chỉ chú ý tác động đến các YTNC thay đổi được, chúng ta chưa đánh giá hết nguy cơ cho người bệnh mà chỉ mới tác động 1 phần, thậm chí có những bệnh nhân không có YTNC thay đổi được mà nguy cơ TM toàn bộ đã ở mức cao (VD: nam 70 tuổi không có các YTNC khác thì nguy cơ BCTMXV-10 năm ≥ 7.5% và có lợi lớn từ điều trị statin đã được chỉ ra từ các TNLS vì phần lớn BCTMXV xảy ra sau tuổi 70)[16]. Như vậy bên cạnh phải can thiệp từng YTNC có thể thay đổi được để “góp nhặt” lợi ích của nó trong tiến trình giảm nguy cơ (nhìn “cục bộ”), chúng ta cần 1 phân tầng nguy cơ tim mạch toàn bộ để có thêm cái nhìn “toàn cảnh” và đặt bệnh nhân vào nhóm nguy cơ “thật sự”,để từ đó về phía thầy thuốc sẽ có những can thiệp thích hợp hơn (không dưới mức và cũng không quá mức) và về phía bệnh nhân sẽ cải thiện sự tuân trị hơn khi được thông tin với con số cụ thể về nguy cơ BCTMXV trong tương lai của mình. Điều không may là chiến lược chỉ quan tâm điều chỉnh từng YTNC riêng lẽ lại thường được áp dụng trong thực hành lâm sàng hiện nay (có lẽ cho đơn giản và ít tốn thời gian), nórõ ràng có nhiều khiếm khuyết: không tính đến các YTNC không thay đổi được, không quan tâm đúng mứcđến độ nặng của từng YTNC, không có cơ sở để từ đó cho những quyết định can thiệp tích cực như liều cao statin, ECG gắng sức … và hệ lụy quan trọng là dẫn đến những điều trị dưới mức hoặc quá mức có thể gây ảnh hưởng cho người bệnh. Để thực hiện điều này, các hiệp hội uy tín trên thế giới đã đề nghị áp dụng các thang điểm nguy cơ tim mạch toàn bộ như: Framingham cho BMV 1998 (Mỹ), Framingham cho nguy cơ tim mạch toàn bộ 2008 (Mỹ), PROCAM 2002 (Đức), QRISK 2007 (Anh), Reynolds-nữ 2007 (Mỹ) Reynolds-nam2008 (Mỹ), SCORE 2003-2012 (Châu Âu)…nhằm phân tầng bệnh nhân cho chiến lược dự phòng tiên phát. Các thang điểm nguy cơ này đều xuất phát từ các đoàn hệ theo dõi dọc, nhưng khác nhau về sắc tộc, biến số đưa vào và quan trọng nhất là tiêu chí đánh giá về biến cố tim mạch: chỉ cho BMV hay bao gồm cả đột quỵ, suy tim và tái thông mạch, chỉ xét tử vong hay cả những biến cố không tử vong (Bảng 4 ).
Bảng 4: So sánh các thang điểm nguy cơ tim mạch toàn bộ[8]
Cuối năm 2013, trường môn tim mạch Mỹ/hội tim mạch Mỹ (ACC/AHA) phối hợp cùng viện tim phổi máu quốc gia Mỹ (NHLBI) xuất bản 1 mô hình phân tầng mới từ phân tích đa biến 1 đoàn hệ gộp dựa trên cộng đồng tổng hợp các đoàn hệ đa sắc tộc, đa vùng địa lý từ các nghiên cứu lớn được tài trợ bởi NHLBI mà không từ 1 công ty dược nào như: ARIC, Cardiovascular Health Study, CARDIA kết hợp cùng nghiên cứu Framingham. Vì thế mô hình này có thể áp dụng trên nhiều sắc tộc, với các biến số đưa vào mô hình là những YTNC cổ điển (traditional risk factor) rất thuận lợi để thu thập,ngay cả cho người bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu như: tuổi, giới, sắc tộc, ĐTĐ, hút thuốc lá, trị số HA tâm thu, có hay không điều trị THA, Cholesterol TP, HDL-C (2 thông số lipid này không cần lấy máu lúc đói).Và điều quan trọng là kết cục được đánh giá không xét đơn thuầnchỉ là tử vong tim mạch hay các biến cố chỉ riêng cho BMV mà là các biến cố cứng đầu tiên cho cả BTMXV nói chung. Các biến cố này thật sự là mối quan tâm từ cả 2 phía bệnh nhân và thầy thuốc, bao gồm: NMCT không tử vong, tử vongdo BMV, đột quỵ tử vong và không tử vong. Từ đó mô hình đưa ra 2 loạitiên lượng là nguy cơ BCTMXV-10 năm cho người 40-79 tuổi và nguy cơ BCTMXV-lâu dài cho người 20-59 tuổi. Đánh giá nguy cơ BCTMXV-lâu dài chỉ mang ý nghĩa cung cấp 1 công cụ để thông tin cho bệnh nhân nhằm thúc đẩy điều trị thay đổi lối sống chứ không là chỉ dẫn cho quyết định điều trị bằng thuốc. Nguy cơ BCTMXV-10 năm với điểm cắt cho nhóm thuộc phân tầng nguy cơ cao khi > 7.5% sẽ định hướng cho những quyết định can thiệp tiếp theo. Chúng ta có thể tính nguy cơ TM toàn bộ này qua 2 cách: bằng phần mềm excel được lập trình sẵn download miễn phí về máy tính (hình 5), hoặc qua tra cứu bảng giá trị xác suất nguy cơ BCTMXV 10 năm cho nữ và nam(bảng 5 và bảng 6)
Hình 5: Bảng tính bằng phần mềm excel cho nguy cơ BCTMXV-10 năm theo ACC/AHA.(Download miễn phí về máy tính theo địa chỉ: http://www.cardiosource.org/Science-And-Quality/Practice-Guidelines-and-Quality-Standards/2013-Prevention-Guideline-Tools.aspx)
. Dự phòng tiên phát biến cố tim mạch do xơ vữa: Cập nhật các khuyến cáo hiện hành – P2
Ngoài ra để đơn giản trong thực hành lâm sàng “bận rộn”, chúng ta cũng có thể nhận dạng nhanh 1 cách tương đối những đối tượng sẽ có nguy cơ BCTMXV-10 năm ≥ 7.5% (không cần qua tra bảng tính xác suất hoặc phương trình excel) theo qui luật được rút ra từ PT nguy cơ tim mạch toàn bộ: “Giảm mỗi 5 tuổi thì thêm 1 YTNC, bắt đầu từ 65 tuổi ở nam và 70 tuổi ở nữ”
| Nam | NỮ | ||
| Tuổi | Số YTNC | Tuổi | Số YTNC |
| ≥ 65 | 0 | ≥ 70 | 0 |
| ≥ 60 | 1 | ≥ 65 | 1 |
| ≥ 55 | 2 | ≥ 60 | 2 |
| ≥ 50 | 3 | ≥ 55 | 3 |
| ≥ 45 | 4 | ≥ 50 | 4 |
| ≥ 40 | 5 | ≥ 45 | 5 |
Câu hỏi được đặt ra cho 1 thang điểm mới xuất hiện là liệu nó tương quan như thế nào với thang điểm trước đây để từ đó có thể suy luận cho những can thiệp đã được áp dụng trên phân tầng cũ, liệu có thể áp dụng được cho phân tầng mới? Nhóm chuyên trách ACC/AHA cũng đã trình bày 1 bảng chéo nhằm so sánh kết quả từ NHANES 2007-2010 bao gồm những người 40-79 tuổi cho 2 phân tầng để thấy sự khác nhau trong phân lớp nguy cơ giữa đánh giá nguy cơ 10 năm theo ATP III (chỉ cho NMCT không tử vong và tử vong do BMV) với phân tầng mới (cho BCTMXC cứng) (bảng 7)
Bảng 7: Phân phối nguy cơ biến cố BMV 10 năm (PT nguy cơ ATP III) so với nguy cơ biến cố BTMXV 10 năm (PT đoàn hệ gộp) ở những người 40-79 tuổi chưa bị BTMXV (NHANES 2007-2010)[8]
Bảng trên cho thấy khi lấy cùng ngưỡng % (5%, 7.5%, 10%) thì phân bố 2 loại biến cố ở 2 phân tầng nguy cơ khác nhau (ATP III và PT gộp mới) có đến 2/3 (chiếm 75%) các cá nhân là tương đồng. Có 31.9% những người có nguy cơ biến cố MV ≥ 10% hoặc ĐTĐ theo ATP III, và cũng có 32.9% những người có nguy cơ BCTMXV theo thang điểm mới nếu ta chọn ngưỡng ≥ 7.5% (không phải ≥ 10%). Chọn ngưỡng thấp hơn (7.5%) là phù hợp cho thang điểm mới vì kết cục về nguy cơ của nó không những chứa biến cố về MV như bảng điểm cũ mà còn thêm các biến cố về đột quỵ.Ngoài ra ≥ 7.5% là ngưỡng có lợi từ điều trị statin qua các phân tích gộp và tổng quan ACC/AHA 2013 cũng tương đồng với ngưỡng ≥ 10% có lợi từ điều trị statin theo thang điểm trước đây. Như chúng ta đã biết, người nam có khuynh hướng đột quỵ thấp hơn BMV,còn người nữ thì ngược lại. Vì thế khi phân lớp lại theo thang điểm mới, quan sát từ bảng so sánh trên cho thấy nam có phân bố về mức nguy cơ thấp hơn và nữ có phân bố về mức nguy cơ cao hơn so với thang điểm cũ. Thêm vào đó, ĐTĐ được xem là nguy cơ tương đương BMV nên tất cả ĐTĐ đều thuộc phân lớp nguy cơ cao nhất trong ATP III, nhưng trong thang điểm mới các BN này có đánh giá nguy cơ < 10%. Như vậy do khác nhau về đánh giá kết cục (mạch vành hay cả mạch não lẫn mạch vành, chỉ xét tử vong hay xét cả không tử vong), những can thiệp dựa trên thang điểm cũ trước đây (FRs, SCORE) có thểphù hợp nếu áp dụng vào thang điểm mới nhưng điểm cắt cho phân tầng có thể khác nhau (đặc biệt cho can thiệp về statin, aspirin và tầm soát BMV).
1. Các dấu ấn nguy cơ mới có giúp ích gì trong tiên đoán biến cố tim mạch?
Các dấu ấn nguy cơ mới (new risk marker) bao gồm những dấu ấn sinh học trong máu và nước tiểu (hs-CRP, ApoB, creatinin hay GFR ước đoán và vi đạm niệu), và đo lường cho bệnh tim mạch dưới lâm sàng (điểm vôi hóa MV-CAC, bề dày lớp nội trung mạc mạch cảnh-CIMT và chỉ số cổ chân cánh tay-ABI) tiền sử gia đình bệnh tim mạch sớm, sự thích ứng của tim phổi (cardiorespiratory fitness). Theo nhóm làm việc(work group) của ACC/AHA về khuyếncáo đánh giá nguy cơ tim mạch 2013 ghi nhận không có dấu ấn nào được đánh giá như test sàng lọc trong các thử nghiệm lâm sàng (TNLS), do đó theo ý kiến chuyên gia đánh giá 4 dấu ấn bao gồm: tiền sử gia đình bệnh TM sớm, hs-CRP, CAC, ABIsẽcó nhiều hứa hẹn cho sử dụng lâm sàng trong danh sách các dấu ấn nguy cơ mới ở trên[8],[9]. Các chuyên gia cũng đã đề nghị ngưỡng đo lường các dấu ấn này cho các quyết định lâm sàng (bảng 8).
Bảng 8: Ý kiến chuyên gia về ngưỡng sử dụng cho các test sàng lọc khi lượng định nguy cơ không chắc chắn cho quyết định dựa trên nguy cơ để khởi trị bằng thuốc
| Đo lường | Ủng hộ cho tái đánh giá nguy cơ (IIb) | Không ủng hộ cho tái đánh giá nguy cơ |
| Tiền sử GĐ bệnh TM sớm | Quan hệ bậc 1: nam < 55 tuổi, nữ < 65 tuổi | Xảy ra tuổi lớn hơn |
| hs-CRP | ≥ 2 mg/l | < 2 mg/l |
| Điểm vôi hóa MV-CAC | ≥ 300 đv Agatston hoặc ≥ bách phân vị thứ 75 cho tuổi giới và sắc tộc | < 300 đv Agatston hoặc < bách phân vị thứ 75 cho tuổi giới và sắc tộc |
| ABI | < 0.9 | ≥ 0.9 |
Hiện tại CAC chính là công cụ hữu ích nhất trong tiếp cận nhằm cải thiện việc đánh giá những người thuộc nhóm nguy cơ trung bìnhsau đánh giá nguy cơ tim mạch toàn bộ ban đầu. Tuy nhiên, nó chỉ là khuyến cáo class IIb vì nó chỉ đánh giá kết cục về bệnh mạch vành mà khôngchungcho BCTMXV cứng (bao gồm cả đột quỵ) và bị phơi nhiễm tia X cũng như chi phí cao. Đo bề dày lớp nội trung mạc mạch cảnh không được khuyến cáo như 1 đo lường thường quy trong thực hành lâm sàng để đánh giá nguy cơ BCTMXV (class III)
2.Vai trò của các can thiệp bằng thuốc tác động trên sinh bệnh (statin, ức chế A-II và aspirin)như thế nào trong chiến lược dự phòng tiên phát?
– Statin trong dự phòng tiên phát[4]:
2 phân tích gộp mới nhấtnăm2012 và 2013 đã cung cấp bằng chứng rõ ràng hỗ trợ cho sử dụng statin trong phòng ngừa tiên phát. Dữ liệu từ Cholesterol Treatment Trialists’ Collaboratior (CTT)cho thấy giảm 1 mmol/l LDL-C làm giảm 9%tử vong do mọi nguyên nhân (RR = 0.91, 95% CI=0.85–0.97) và làm giảm 25%biến cố mạch máu chính (RR = 0.75, 95% CI = 0.70–0.80) ngay cả ở BN thuộc nguy cơ thấp[5]. Tổng quan từ thư viện Cochrane năm 2013 cho thấy giảm 14% tử vong do mọi nguyên nhân (OR 0.86, 95% CI 0.79–0.94) và giảm 25% biến cố tim mạch (RR 0.75, 95% CI 0.70–0.81) mặc dù làm tăng 18% ĐTĐ mới mắc (RR 1.18, 95% CI 1.01–1.39)[17].
– Ức chế AII trong dự phòng tiên phát:
Hình 7: Vai trò dự phòng và điều trị của UCMC và UCTT trong chuỗi bệnh lý tim mạch (Dzau và Brauwald 1991)
Trong chuỗi bệnh lý tim mạch, UCMC và UCTT có nhiều vị trí tác động chocả 2 chiến lược phòng ngừa tiên phát và thứ phát. Chúng có ảnh hưởng gián tiếp trong dự phòng tiên phát bởi làm giảm HA và giảm phì đại thất trái.Chúng còn bảo vệ mạch máu một cách gián tiếp bởi tác động chống THA và có vai trò ức chế một cách trực tiếp sinh xơ vữa và sinh huyết khối mạch cảnh. Về mặt bằng chứng UCMC-UCTT đã được chứng minh hiệu quả bảo vệ tim mạchtrên các đối tượng nguy cơ cao có THA, ĐTĐhoặc bệnh thận mạn do ĐTĐ và không do ĐTĐqua các TNLS UKPDS (1998), HOPE,MICRO-HOPE(2000), ASCOT (2005), ADVANCE (2007).Và gần đây một phân tích gộp từ 13 TNLS của Finlay A.McAlister năm 2012 đã cho thấy hiệu quả của nhóm thuốc này độc lập với tác dụng hạ áp (HA tâm thu < 130 mmHg) trên những BN với hay chỉ tại mức nguy cơ cho BTMXV[7](hình 10).
Hình 8: Hiệu quả UCMC-UCTT trên kết cục gộp của tử vong TM, NMCT không tử vong, đột quỵ không tử vong ở các phân nhóm BN có HA tâm thu < 130 mmHg[7]
– Aspirin trong dự phòng tiên phát[11],[13]:
Kết quả 4 phân tích gộp gần đây từ những TNLS về aspirin trong dự phòng tiên phát bệnh lý tim mạch cho thấy:
· Aspirin giảm không ý nghĩa 6% tử vong do mọi nguyên nhân
· Giảm không ý nghĩa tử vong do nguyên nhân tim mạch
· Giảm có ý nghĩa 10-13% biến cố tim mạch chính
· Giảm có ý nghĩa 19-23% NMCT không tử vong
· Không làm giảm đột quỵ do giảm 14% đột quỵ thiếu máu nhưng lại làm tăng 32-36% đột quỵ xuất huyết
· Làm tăng 31-66% chảy máu nặng và khảng 37% chảy máu dạ dày ruột
Hình 9: Kết quả các phân tích gộp gần đây về aspirin trong dự phòng tiên phát
Ngoài ra, hầu hết các TNLS về aspirin trong dự phòng tiên phát đều thực hiện trước khi các can thiệp hiệu quảnhư statin và UCMC đượcsử dụng rộng rãi. Vì thế nguy cơ biến cố tim mạchhiện nay có lẽ sẽ còn thấp hơn trong thời đại statin-UCMC, và lợi ích mang lại từ can thiệp aspirin trên dân số có nguy cơ thấp hơnnày sẽ càng nhỏ hơn và cán cân lợi ích < nguy cơ lại càng rõ. Hiện tại vai trò aspirin trong dự phòng tiên phát ngày càng thu hẹp và một số khuyến cáo gần đây đã bỏ hẳn chỉ định này.
1. Khi nào tầm soát BMV?
Tầm soát BMV với ECG, ECG gắng sức thảm lăn (ETT), chụp cắt lớp chùm tia electron (EBCT) để tính điểm vôi hóa MV, về mặt suy luận có thể làm giảm biến cố MV bằng 2 cách: hoặc bởi tái phân lớp BN lại sau các test này nhằm phát hiện những người tại mức nguy cơ cao cho biến cố MV, những người này sẽ có lợi từ điều chỉnh tích cực hơn các yếu tố nguy cơ.Hoặc bởi phát hiện ra những người có hẹp ĐMV nặng (bệnh thân chung hoặc bệnh 3 nhánh kèm suy giảm chức năng thất trái), những người này sẽ kéo dài đời sống với can thiệp tích cực hơn như mổ bắc cầu (CABG) hoặc can thiệp ĐMV qua da (PTCA). Tuy nhiên kết quả dương tính giả của test sàng lọc có thể gây hại nhiều hơn lợi. Test dương tính giả lại thường gặp ở những người không triệu chứng, đặc biệt ở phụ nữ và có thể dẫn đến những test chẩn đoán không cần thiết, điều trị quá mức và dán nhãn bệnh tật cho BNsau đó. Mặt khác, bởi vì độ nhạy của những test này bị giới hạn nên cũng có thể gây âm tính giả và kết quả test sàng lọc dù âm tính cũng không loại trừ sự hiện diện hẹp ĐMV nặng và biến cố BMV trong tương lai. Những người có nghề nghiệp đặc biệt mà biến cố xảy ra với họ có thể ảnh hưởng đến sự an toàn cho cộng đồng (VD như phi công, tài xế xe bus, xe tải…) có thể ảnh hưởng đến quyết định cho các test sàng lọc này. Mặc dù vài chương trình gắng sức bước đầu dùng ETT để sàng lọc những người không triệu chứng nhưng hiện vẫn không đủ bằng chứng để xác định sự cân bằng giữa lợi ích và nguy hại. Do đó việc nhìn lại y văn để tìm hiểu độ chính xác của các test này là cần thiết cho quyết định lâm sàng.
Trong một phân tích gộp, độ nhạy của những bất thường trên ECG khi nghỉ cho biến cố tim mạch rất thấp. Tần suất của những bất thường ECG thường gặp (sóng Q, phì đại thất trái, block bó nhánh, ST chênh xuống) dao động 1-10%. Độ nhạy ECG gắng sức cho tiên đoán biến cố tim mạch tương lai 3-12 năm dao động từ 40-62%, giá trị tiên đoán dương (PPV) từ 6-48%. Tần suất của những bất thường ECG gắng sức (ST chênhxuống ≥ 1mm) dao động 5-25%. ECG gắng sức phát hiện hẹp ĐMV nặng ở những người nam trung niên không triệu chứng khoảng 0.5%.Giá trị tiên đoán dương biến cố MV tương lai ở những người nam không triệu chứng trong những nghiên cứu đoàn hệ gần đây là thấp 6-48%. Trong những bệnh nhân có triệu chứng gợi ý bệnh MV, EBCT có độ nhạy 80%, và độ chuyên 40% cho phát hiện bệnh ĐMV nặng, số liệu này còn thiếu trên những người không triệu chứng.
Năm 2012 USPSTF (U.S.Preventive Services Task Force) đã có 2 khuyến cáo về tầm soát BMV trên những người không triệu chứng[19],[20]:
· USPSTF khuyến cáo chống lại việc tầm soát thường qui ECG khi nghỉ, ETT, EBCT tính điểm vôi hóa ĐMV hoặc cho sự hiện diện hẹp ĐMV nặng hoặc cho tiên đoán biến cố MV ở người trưởng thành có nguy cơ thấp (nguy cơ biến cố MV-10 năm là 5-10%)
· USPSTF tìm thấy những bằng chứng yếu để khuyến cáo hoặc cho phép hoặc chống lại việc sàng lọc thường qui với ECG, ETT hoặc EBCT tính điểm vôi hóa MV để cho hoặc sự hiện diện của hẹp nặng ĐMV hoặc tiên đoán biến cố MV ở những người tại mức tăng nguy cơ biến cố MV (nguy cơ biến cố MV-10 năm 15-20%).
Và mới đây năm 2013, trong bảng báo cáo về tiêu chuẩn sử dụng thích hợp các test nhằm để phát hiện và đánh giá nguy cơ bệnh tim thiếu máu cục bộ,10 hiệp hội của MỹACCF/AHA/ASE/ASNC/HFSA/HRS/SCAI/SCCT/SCMR/STS,đã đề nghị các nhà lâm sangdùng các thang điểm đánh giá nguy cơ BMV toàn bộ như ATP III, PROCAM hoặc những thang điểm tương tự khác cho những người không triệu chứng (bảng báo cáo này ra đời trước khuyến cáo đề nghị áp dụng thang điểm mới đánh giá nguy cơ BCTMXV 10 năm) rồi từ đó sẽ có những chọn lựa các test thích hợp tùy thuộc phân tầng của BN[1](bảng 9).
Bảng 9 : Chọn lựa test để phát hiện hoặc đánh giá nguy cơ BTTMCB trên người không triệu chứng đau ngực hoặc triệu chứng tương đương với TMCB[1]
|
BỆNH NHÂN |
ECG gắng sức | YHHN gắng sức | SAT gắng sức | CHT gắng sức | Điểm vôi hóa MV | MSCT mvành | CMV xâm lấn |
| NC BMV toàn bộ thấp, bất kể ECG và khả năng GS | Không | Không | Không | Không | Không | Không | Không |
| NC BMV toàn bộ TB, ECG đọc được và có khả năng GS | Có thể | Không | Không | không | Có thể | không | không |
| NC BMV toàn bộ TB, ECG không đọc được hoặc không khả năng GS | X | Có thể | Có thể | không | Có thể | không | không |
| NC BMV toàn bộ cao, ECG đọc được và có khả năng GS | Thích hợp | Có thể | Có thể | Có thể | Có thể | Có thể | không |
| NC BMV toàn bộ cao, ECG không đọc được hoặc không khả năng GS | X | Có thể | Có thể | Có thể | Có thể | Có thể | Không |
Thích hợp(Appropriate), có thể (may be appropriate), không hoặc hiếm khi (rare)
3. Các khuyến cáo hiện hành nói gì về chiến lược dự phòng tiên phát?
|
Tiếp cận 2ABCDE |
Vấn đề |
ESC 2012[14] |
ACC/AHA 2013[6],[8],[16] |
|
A Assessment Aspirin |
Đánh giá nguy cơ |
·Thang điểm SCORE ( sử dụng YTNC cổ điển) ·Đánh giá kết cục: chỉ xét biến cố xơ vữa có tử vong-10 năm (NMCT, ĐQ)cho đối tượng nam > 40 tuổi, nữ > 50 tuổi hoặc mãn kinh ·Phân tầng: <1%, 1-5%, 5-10%, ≥ 10% ·Lặp lại: mỗi 2 năm ·Dấu ấn mới cho đánh giá thêm NC hoặc quyết định điều trị: hs-CRP, ABI, CAC, CIMT (IIa), ECG gắng sức (IIb) |
·Khuyến cáo dùng Phương trình đoàn hệ gộp-Pooled Cohort Equation (sử dụng YTNC cổ điển)trong đánh giá nguy cơ TM thay cho các thang điểm cũ ·Đánh giá kết cục: biến cố xơ vữa cứng-10 năm (NMCT , tử vong do BMV, đột quỵ tử vong và không tử vong) cho 40-79 tuổi và lâu dài cho 20-59 tuổi ·Phân tầng: < 7.5%, ≥ 7.5% (ngưỡng 7.5% tương đồng ngưỡng 10%/ATP III về so sánh phân bố và lợi ích statin) ·Lặp lại: mỗi 4-6 năm nếu < 7.5% ·Dấu ấn mới cho đánh giá thêm NC hoặc quyết định điều trị: hs-CRP, TSGĐ, ABI, CAC (IIb), CIMT (III) |
|
Aspirin |
·Không chỉ định |
Điều trị dựa vào thang điểm ·Theo thang điểm mới: chưa đề cập, chỉ báo cáo ngưỡng tương đồng 10%/ATP III với 7.5%/thang điểm mới ·Theo FRs: ≥ 10% ·USPSTF 2009: nam 45-79 tuổi khi lợi ích giảm NMCT >nguy cơ XHTH; nữ 55-79 tuổi khi lợi ích giảm ĐQ >nguy cơ XHTH[19] |
|
|
B Blood pressure Block AII |
Huyết áp |
Điều trị dựa vào thang điểm ·Chia 3 độ (grade), phân tầng kết hợp YTNC và tổn thương cơ quan ·HA đích < 140/90 (< 150/90 nếu > 80), < 140/85 cho ĐTĐ ·Tất cả các thuốc ngang bằng trong chọn lựa ban đầu |
Không dựa vào thang điểm[2] ·Chia 2 giai đoạn (stage), không dựa vào YTNC khác, rà soát những chỉ định bắt buộc ·HA đích < 140/90 cho cả bệnh thận, ĐTĐ (< 150/90 nếu ≥ 80 tuổi) ·Thay đổi lối sống là xuyên suốt trong quá trình điều trị ·Ức chế bkhông chọn ban đầu nếu không có chỉ định bắt buộc |
|
UCMC-UCTT |
·Vai trò dự phòng tiên phát ở BN nguy cơ cao có THA, ĐTĐkèm THAvà bệnh thận kèm tiểu đạm hoặc THA |
·Tương tự |
|
|
C Cholesterol Cigarette |
Cholesterol |
Điều trị dựa vào thang điểm ·Điều trị statin đạt mức đích LDL-C theo từng nhóm nguy cơ (< 70, < 100, < 115) |
Điều trị dựa vào thang điểm ·Khởi trị cũng như liều statin TB-cao không theo mức đíchLDL-C mà tùy thuộc vào đối tượng và nguy cơ-10 năm BCTMXV (<7.5%, > 7.5%) ·Chú ý 4 nhóm lợi ích: BTMXV lâm sàng, LDL-C ≥ 190, ĐTĐ, NC-10 năm ≥ 7.5% |
|
Thuốc lá |
·Đích: Cai thuốc lá ·Thực hiện: 5A ASK: hỏi một cách hệ thống về hút thuốc lá mỗi khi BN tái khám. ADVISE: thúc giục mạnh mẽ BN từ bỏ thuốc lá. ASSESS: xác định mức độ nghiện và ý chí bỏ thuốc lá của BN ASSIST: hỗ trợ BN trong chiến lược cai thuốc lá (xác định ngày bỏ, cho những lời khuyên về hành vi và dùng thuốc hỗ trợ). ARRANGE: sắp xếp kế hoạch theo dõi |
·Tương tự |
|
|
D Diabetes Diet |
Đái tháo đường |
·Đích HbA1c≤ 7% ·Hạn chế hạ ĐH (< 6.5%chỉ xem xét: ĐTĐtrẻ, chưa BC; 7.5-8% lớn tuổi, bệnh lâu) ·Cá thể hóa ·Metformin nên được chọn lựa đầu tiên |
Tương tự |
|
Chế độ ăn |
· Acid béo bão hòa <10%· Acid béo không bão hòa đồng phân trans < 1% ·· < 5 g muối ăn mỗi ngày · 30-45 g chất xơ mỗi ngày, từ gạo, trái cây và rau cải. · 200 g trái cây mỗi ngày 200 g rau cải mỗi ngày · · Ăn cá ít nhất 2 lần/tuần (cá béo). · Uống rượu nên giới hạn 2 ly/ngày (20 g rượu/ngày) cho nam và 1 ly/ngày (10g rượu/ngày) cho nữ.
|
·Chế độ ăn khỏe mạnh (giúp ngăn ngừa BCTMXV thông qua tác động các YTNC thay đổi được như HA, lipid) quan trọng hơn từng thành phần riêng rẻ trong chế độ ăn. ·BMI 18.5-24.9, khi BMI ≥ 25: vòng eo < 102 cm (nam), < 88 cm (nữ) ·Chế độ ăn nhấn mạnh rau, trái cây, nguyên hạt, bơ ít béo, gia cầm, cá, hạt và dầu từ cải không thuộc vùng nhiệt đới, hạn chế đường và thịt đỏ. Chế độ ăn với năng lượng hợp lý, phù hợp sở thích cá nhân và văn hóa. Chế độ ăn theo kiểu DASH, USDA hoặc chế độ ăn AHA ·5-6% tổng năng lượng từ mỡ bão hòa, giảm % mỡ trans ·Na: < 2400mg/ngày (nếu THA), đến 1500mg/ngày nếu muốn hạ HA nhiều hơn |
|
|
E Exercise EvaluateCHD |
Vận động thể lực |
·Ít nhất cường độ TB trở lên 2.5-5 giờ/tuần, hoặc chỉ 1-2.5 giờ/tuần nhưng ở cường độ nặng.·NMCT, CABG, PCI, ĐTNOĐ, suy tim mạn trước đây nên tập aerobic cường độ trung bình-nặng ≥ 3 lần/tuần và ≥ 30 phút cho mỗi lần luyện tập |
·Hoạt động thể lực aerobic cường độ TB-nặng 3-4 lần/tuần, mỗi lần ít nhất 40 phút |
|
Tầm soát BMV |
Điều trị dựa vào thang điểm ·ECG GS chỉ được xem xét ở BN không triệu chứng khi từ NC cao trở lên SCORE > 5% (IIb), không khuyến cáo cho NC thấp-TB (III) ·Nghề nghiệp ảnh hưởng cộng đồng (Phi công, tài xế xe bus, xe tải..), vận động viên chuyên nghiệp có thể xem xét tầm soát ở mức NC thấp hơn (NC TBình), ECG GS (IIb), CAC (IIa) |
Điều trị dựa vào thang điểm ·Thang điểm mới 2013: chưa đề cập, chỉ báo cáo ngưỡng tương đồng 10%/ATP III với 7.5%/thang điểm mới ·Điểm FRs (10 hiệp hội-2013): NC caoàECG GS: thích hợp ≥ NC TBàGS hình ảnh+CAC: có thể thích hợp ·ADA 2014: không khuyến cáo nếu không có gợi ý ECG hoặc triệu chứng /ĐTĐ |
4. Dự phòng tiên phát cụ thể ra sao?
(*)Chúng tacó thể nhận dạng nhanh 1 cách tương đối những đối tượng sẽ có nguy cơ BCTMXV-10 năm ≥ 7.5% theo qui luậtđược rút ra từ PT nguy cơ tim mạch toàn bộ(không cần qua tra bảng tính xác suất hoặc phương trình excel): “Giảm mỗi 5 tuổi thì thêm 1 YTNC, bắt đầu từ 65 tuổi ở nam và 70 tuổi ở nữ”
|
NAM |
NỮ |
||
|
Tuổi |
Số YTNC |
Tuổi |
Số YTNC |
|
≥ 65 |
0 |
≥ 70 |
0 |
|
≥ 60 |
1 |
≥ 65 |
1 |
|
≥ 55 |
2 |
≥ 60 |
2 |
|
≥ 50 |
3 |
≥ 55 |
3 |
|
≥ 45 |
4 |
≥ 50 |
4 |
|
≥ 40 |
5 |
≥ 45 |
5 |
III. KẾT LUẬN
Là một người thầy thuốc với sứ mệnh cao cả là chăm sóc sức khỏe cho mọingười, ai trong chúng ta không thường trăn trở rằng mình sẽ đóng góp được gì trong hành trình đầy ý nghĩa này. Ba nguyên nhân gây tử vong thường gặp đã được xác định ở thời điểm hiện tại là: tim mạch, ung thư, tai nạn giao thông, trong đó đứng đầu danh sách là tử vong tim mạch mà cụ thể là do BCTMXV. Điều này càng mang nhiều ý nghĩa khi chúng ta chính là những người bác sĩ tim mạch có liên quan trực tiếp đến vấn đề sức khỏe quan trọng này.Thời đại thông tin ngày nay, những kiến thức mới từ các thử nghiệm lâm sàng liên tục bùng nổ, đặc biệt trong lĩnh vực tim mạch đã làm cho các hiệp hội uy tín trên thế giới thường xuyên phải cập nhật để điều chỉnh các khuyến cáo của mình cho phù hợp. Dự phòng tiên phát BCTMXV là 1 chủ đề khá rộng, liên quan đến nhiều vấn đề lớn trong tim mạch. Vẫn còn nhiều điều cần làm sáng tỏ trong tương lai do các khuyến cáo chưa thống nhất như: aspirin, UCMC-UCTT trong vai trò bảo vệ tim mạch lâu dài ở các phân nhóm nguy cơ độc lập THA, tầm soát BMV ở BN không triệu chứng…Các hiệp hội của Mỹ đãnhìn thẳng vào những kết cục sức khỏe quan trọngvà mạnh dạn thay đổi thang điểm đánh giá nguy cơ tim mạch toàn bộ.Điều này sẽ dẫn đến những thay đổi rất lớn về các tiêu chí đánh giá trong các TNLS cũng như cách tiếp cập trong thực hành lâm sàng hằng ngày sau này. Là 1 người bác sĩ lâm sàng, chúng ta cần cá thể hóa để cho phù hợp với điều kiện hiện tại của BN,trên cơ sở cập nhật có suy xét các kiến thức mới của nhân loại từ các nghiên cứu và khuyến cáo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1.ACCF/AHA/ASE/ASNC/HFSA/HRS/SCAI/SCCT/SCMR/STS (2014), “Multimodality Appropriate Use Criteria for the Detection and Risk Assessment of Stable Ischemic Heart Disease”, J Am Coll Cardiol 63, 380-406.
2. American Society of Hypertension / International Society of Hypertension (2014), “Clinical practice guidelines for the management of hypertension in the community”, J Hypertens, 32, 3-15.
3. Antonio M.Goto, Lionel H. Opie, et al. (2013), “Lipid Modifying and Antiatheroslerotic Drugs”, Drugs for the Heart, Elsevier, 398-436.
4. C. Michael Mindera, R. S. Blumenthala, et al. (2013), “Statins for primary prevention of cardiovascular disease: the benefits outweigh the risks”, Curr Opin Cardiol, 28, 554-560.
5. Cholesterol Treatment Trialists (CTT) Collaborators. Mihaylova B, E. and B. L. J (2012), “The effects of lowering LDL cholesterol with statin therapy in people at low risk of vascular disease: meta-analysis of individual data from 27 randomised trials”, Lancet, 380, 581-590.
6. Eckel RH, Jakicic JM, et al. (2013), “AHA/ACC Guideline on Lifestyle Management to Reduce Cardiovascular Risk: a Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Practice Guidelines”, Circulation, published online Nov 12,
7. Finlay A. McAlister (2012), “Angiotensin-converting enzyme inhibitors or angiotensin receptor blockers are beneficial in normotensive atherosclerotic patients: a collaborative meta-analysis of randomized trials”, European Heart Journal, 33, 505-514.
8. Goff DC Jr, Lloyd-Jones DM, et al. (2013), “ACC/AHA Guideline on the Assessment of Cardiovascular Risk: a Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Practice Guidelines”, Circulation, published online Nov 12,
9. Greenland P, Alpert JS, et al. (2010), “ACCF/AHA guideline for assessment of cardiovascular risk in asymptomatic adults”, Circulation, 122, e584–e636.
10. J.Michael Gaziano, Paul M Ridker, et al. (2012), “Primary and Secondary Prevention of Coronary Heart Disease”, Braunwalds Heart Disease, Elsevier Health Sciences, New York, 1010-1035.
11. John G.F. Cleland (2013), “Is aspirin useful in primary prevention?”, European Heart Journal, 34, 3412-3418.
12. Michael H. Crawford, M., FACC, John P. DiMarco (2010), Cardiology, 3rd Edition, Elsevier,
13. Nina C. Raju and John W. Eikelboom (2012), “The aspirin controversy in primary prevention”, Curr Opin Cardiol 27,
14. Perk J, De Backer G, et al. (2012), “European guidelines on cardiovascular disease prevention in clinical practice (version 2012). The fifth joint task force of the European Society of Cardiology and other societies on cardiovascular disease prevention in clinical practice (constituted by representatives of nine societies and by invited experts). Developed with the special contribution of the European Association for Cardiovascular Prevention and Rehabilitation (EACPR)”, Eur Heart J, 33, 1635–1701.
15. Salim Yusuf and Steven Hawken (2004), “Effect of potentially modifiable risk factors associated with myocardial infarction in 52 countries (the INTERHEART study): case-control study”, The Lancet, 364, 937-952.
16. Stone NJ, Robinson J, et al. (2013), “ACC/AHA Guideline on the Treatment of Blood Cholesterol to Reduce Atherosclerotic Cardiovascular Risk in Adults: a Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Practice Guidelines”, Circulation, published online Nov 12,
17. Taylor F, Huffman MD, et al. (2013), “Statins for the primary prevention of cardiovascular disease”, Cochrane Database of Systematic Reviews,
18. Third report of the National Cholesterol Education Program (NCEP) (2002), “Detection, evaluation, and treatment of high blood cholesterol in adults (Adult Treatment Panel III)”, Circulation, 106, 3143-3421.
19. U.S. Preventive Services Task Force (2009), “Aspirin for the prevention of cardiovascular disease”, Ann Intern Med, 150, 396-404.
20. U.S. Preventive Services Task Force (2012), “Screening for coronary heart disease”, Ann Intern Med, 157, 512-518.










