HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ ASPIRIN DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO VÀ TIA (Guideline 2014)

HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ ASPIRIN DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO VÀ TIA (Guideline 2014)

6 Tháng Năm, 2019

HƯỚNG DẪN CỦA HỘI TIM MẠCH VÀ ĐỘT QUỴ MỸ VỀ DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO VÀ CƠN THIẾU MÁU NÃO CỤC BỘ THOẢNG QUA

LIỆU PHÁP KHÁNG TIỂU CẦU DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO VÀ CƠN TIA

TS.BS. Nguyễn Văn Tuyến, Giám đốc Trung tâm đột quỵ 108 – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

TS.BS. Nguyễn Văn Tuấn, Chủ nhiệm Bộ môn Phục hồi chức năng – Bệnh viện Quân y 103 – Học viện Quân y

Guidelines for the Prevention of Stroke in Patients With Stroke

and Transient Ischemic Attack

A Guideline for Healthcare Professionals From the American Heart Association/American Stroke Association

The American Academy of Neurology affirms the value of this guideline as an educational tool for neurologists.

https://www.ahajournals.org/doi/pdf/10.1161/str.0000000000000024

 

Dịch tóm tắt một phần của Guideline (2014) về thuốc kháng kết tập tiểu cầu dự phòng đột quỵ thiếu máu não và cơn thiếu máu não cục bộ thoảng qua.

  1. Đối với bệnh nhân bị đột quỵ do thiếu máu cục bộ hoặc TIA, nên sử dụng thuốc chống kết tập tiểu cầu thay vì chống đông bằng đường uống để giảm nguy cơ đột quỵ tái phát và các biến cố tim mạch khác (Loại I; Cấp độ bằng chứng A).
  1. Đơn trị liệu bằng Aspirin (50 – 325 mg / ngày) (Loại I; Cấp độ Bằng chứng A) hoặc kết hợp aspirin 25 mg và dipyridamole giải phóng kéo dài 200 mg hai lần mỗi ngày (Loại I; Cấp độ Bằng chứng B) được chỉ định điều trị ngay sau TIA hoặc đột quỵ thiếu máu cục bộ để phòng ngừa đột quỵ trong tương lai. (Khuyến cáo sửa đổi)
  2. Đơn trị liệu bằng Clopidogrel (75 mg) là một lựa chọn hợp lý để phòng ngừa đột quỵ thứ phát thay cho aspirin hoặc kết hợp aspirin / dipyridamole (Class IIa; Cấp độ Bằng chứng B). Khuyến cáo này cũng áp dụng cho những bệnh nhân bị dị ứng với aspirin.
  3. Việc lựa chọn một tác nhân kháng tiểu cầu phải được cá nhân hóa trên cơ sở hồ sơ yếu tố nguy cơ bệnh nhân, chi phí, khả năng dung nạp, hiệu quả được biết đến tương đối của các tác nhân và các đặc điểm lâm sàng khác (Cấp I; Cấp độ Bằng chứng C).
  4. Sự kết hợp giữa aspirin và clopidogrel có thể được xem xét để bắt đầu trong vòng 24 giờ sau đột quỵ thiếu máu cục bộ hoặc TIA và tiếp tục trong 21 ngày (Cấp IIb; Cấp độ Bằng chứng B). (Khuyến nghị mới)
  5. Sự kết hợp giữa aspirin và clopidogrel, khi được bắt đầu từ vài năm đến vài năm sau một cơn đột quỵ nhỏ hoặc TIA và tiếp tục trong 2 đến 3 năm, làm tăng nguy cơ xuất huyết so với một trong hai tác nhân và không được khuyến nghị để phòng ngừa thứ phát lâu dài sau đột quỵ do thiếu máu cục bộ hoặc TIA (Cấp III; Cấp độ Bằng chứng A).
  6. Đối với những bệnh nhân bị đột quỵ do thiếu máu cục bộ hoặc TIA khi đang dùng aspirin, không có bằng chứng nào cho thấy việc tăng liều aspirin mang lại lợi ích bổ sung. Mặc dù các thuốc chống kết tập tiểu cầu thay thế thường được xem xét, nhưng không có tác nhân hay sự kết hợp nào được nghiên cứu đầy đủ ở những bệnh nhân đã có một sự kiện trong khi dùng aspirin (Class IIb; Cấp độ Bằng chứng C).
  7. Bệnh nhân với tiền sử đột quỵ thiếu máu não hoặc rung nhĩ và bệnh mạch vành sự hữu ích của việc thêm liệu pháp kháng tiểu cầu tới liệu pháp kháng đông là không chắc chắn để giảm nguy cơ bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ và thiếu máu não cục bộ (Loại Iib, mức bằng chứng C).

Abstract—The aim of this updated guideline is to provide comprehensive and timely evidence-based recommendations on the prevention of future stroke among survivors of ischemic stroke or transient ischemic attack. The guideline is addressed to all clinicians who manage secondary prevention for these patients. Evidence-based recommendations are provided for control of risk factors, intervention for vascular obstruction, antithrombotic therapy for cardioembolism, and antiplatelet therapy for noncardioembolic stroke. Recommendations are also provided for the prevention of recurrent stroke in a variety of specific circumstances, including aortic arch atherosclerosis, arterial dissection, patent foramen ovale, hyperhomocysteinemia, hypercoagulable states, antiphospholipid antibody syndrome, sickle cell disease, cerebral venous sinus thrombosis, and pregnancy. Special sections address use of antithrombotic and anticoagulation therapy after an intracranial hemorrhage and implementation of guidelines. (Stroke. 2014;45:2160-2236.)

Chia sẻ bài viết

BÀI VIẾT LIÊN QUAN
.
.
.
.